<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<feed xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom">
<title>Bộ danh mục tài liệu thư viện - Viện Hải dương học - VNIO library catalogue</title>
<link href="http://tvhdh.vnio.org.vn:8080/xmlui/handle/123456789/1" rel="alternate"/>
<subtitle>Tất cả chứa ở đây</subtitle>
<id>http://tvhdh.vnio.org.vn:8080/xmlui/handle/123456789/1</id>
<updated>2026-10-06T12:32:21Z</updated>
<dc:date>2026-10-06T12:32:21Z</dc:date>
<entry>
<title>Ảnh hưởng của nồng độ nitrate lên sinh trưởng  của vi tảo lục Haematococcus pluvialis Flotow  trong điều kiện phòng thí nghiệm [Effect of nitrate concentration on growth of green microalga Haematococcus pluvialis under laboratory conditions].</title>
<link href="http://tvhdh.vnio.org.vn:8080/xmlui/handle/123456789/21874" rel="alternate"/>
<author>
<name>Lê, Thị Thơm</name>
</author>
<author>
<name>Lưu, Thị Tâm</name>
</author>
<author>
<name>Đinh, Thị Ngọc Mai</name>
</author>
<author>
<name>Hoàng, Thị Lan Anh</name>
</author>
<author>
<name>Ngô, Thị Hoài Thu</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Cẩm Hà</name>
</author>
<author>
<name>Đặng, Diễm Hồng</name>
</author>
<id>http://tvhdh.vnio.org.vn:8080/xmlui/handle/123456789/21874</id>
<updated>2026-10-01T08:52:27Z</updated>
<published>2013-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Ảnh hưởng của nồng độ nitrate lên sinh trưởng  của vi tảo lục Haematococcus pluvialis Flotow  trong điều kiện phòng thí nghiệm [Effect of nitrate concentration on growth of green microalga Haematococcus pluvialis under laboratory conditions].
Lê, Thị Thơm; Lưu, Thị Tâm; Đinh, Thị Ngọc Mai; Hoàng, Thị Lan Anh; Ngô, Thị Hoài Thu; Nguyễn, Cẩm Hà; Đặng, Diễm Hồng
Astaxanthin  là  một  sắc  tố  tự  nhiên được  sử  dụng  phổ  biến  trong  nuôi  trồng  thủy  sản,  công nghiệp thực phẩm, dược phẩm và thực phẩm chức năng. Nhiều vi sinh vật như nấm, địa y, vi khuẩn cũng có khả năng tổng hợp astaxanthin nhưng vi tảo lục Haematococcus pluvialisđược xem là đối tượng tiềm năng nhất cho sản xuất astaxanthin thương mại. Trong bài báo này, chúng tôi nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ nitrate trong môi trường nuôi cấy lên sinh trưởng của H. pluvialis ở cấp độ bình tam giác 250 ml. Các nồng độ nitrate thí nghiệm gồm 219, 438, 876, 1314, 1752, 2190 mg/L, trong đó nồng độ nitrate 876 mg/L (tức nồng độ nitrate cao gấp 4 lần so với môi trường RM cơ bản) được xác định là thích hợp nhất cho  sinh  trưởng  của  loài  vi  tảo  này.  Tại  nồng độ  nitrate  thích  hợp  nêu  trên,  mật độ  tế  bào,  hàm  lượng chlorophyll a và astaxanthin đạt cao nhất là 1,74 × 106 TB/ml, 2081 μ g/L, 1053 μ g/L, tương ứng. Tỷ lệ tế bào sinh dưỡng ở nồng độ nitrate này cao hơn so với các nồng độ khác và hàm lượng protein có xu hướng giảm dần theo thời gian nuôi cấy ở tất cả các công thức thí nghiệm.
</summary>
<dc:date>2013-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Ampeliscid crustaceans (Amphipoda: Gammaridea: Ampeliscidae) from the Vietnam sea [Họ giáp xác chân khác Ampeliscidae  (Amphipoda: Gammaridea: Ampeliscidae) của biển Việt nam].</title>
<link href="http://tvhdh.vnio.org.vn:8080/xmlui/handle/123456789/21873" rel="alternate"/>
<author>
<name>Dang, Ngoc Thanh</name>
</author>
<author>
<name>Le, Hung Anh</name>
</author>
<id>http://tvhdh.vnio.org.vn:8080/xmlui/handle/123456789/21873</id>
<updated>2026-10-01T08:52:49Z</updated>
<published>2013-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Ampeliscid crustaceans (Amphipoda: Gammaridea: Ampeliscidae) from the Vietnam sea [Họ giáp xác chân khác Ampeliscidae  (Amphipoda: Gammaridea: Ampeliscidae) của biển Việt nam].
Dang, Ngoc Thanh; Le, Hung Anh
Thirty-five species of the family Ampeliscidae, including 22 species of Ampelisca and 13 species of Byblis are listed for the near-shore waters of Vietnam. In the world, Ampelisca compreses more than  210  species  and  83  species  of Byblis.  Ten  species  are  newly  recorded  for  the  benthic  Ampeliscidae fauna  of  the  Vietnam  sea,  of  which  six  new  species are  described,  viz. Ampelisca  dongnamensis;Ampelisca submisakiensis; Ampeliscatalus; Ampeliscataynamensis; Ampeliscathaoae and Byblis caecus. Some remarks on their geographical distributions are presented in the paper.
</summary>
<dc:date>2013-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Bước đầu nghiên cứu Squalene trong một số chủng vi tảo biển phân lập ở Việt Nam [Initial studies on squalene from some marine microalgae isolated in Vietnam].</title>
<link href="http://tvhdh.vnio.org.vn:8080/xmlui/handle/123456789/21872" rel="alternate"/>
<author>
<name>Đinh, Thị Ngọc Mai</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Cẩm Hà</name>
</author>
<author>
<name>Lê, Thị Thơm</name>
</author>
<author>
<name>Đặng, Diễm Hồng</name>
</author>
<id>http://tvhdh.vnio.org.vn:8080/xmlui/handle/123456789/21872</id>
<updated>2026-10-01T08:53:15Z</updated>
<published>2013-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Bước đầu nghiên cứu Squalene trong một số chủng vi tảo biển phân lập ở Việt Nam [Initial studies on squalene from some marine microalgae isolated in Vietnam].
Đinh, Thị Ngọc Mai; Nguyễn, Cẩm Hà; Lê, Thị Thơm; Đặng, Diễm Hồng
Squalene là một hydrocacbon có mức độ không bão hòa cao và thuộc nhóm triterpen. Thông thường, squalene được sử dụng làm tác nhân  giữ ẩm và  tạo độ mềm trong công nghiệp dược phẩm, mỹ phẩm. Quan trọng hơn, nó là một chất chống oxi hóa tự nhiên có vai trò bảo vệ tế bào khỏi các gốc tự do, tăng cường miễn dịch và giảm nguy cơ ung thư. Trong bài báo này, chúng tôi trình bày các kết quả nghiên cứu bước đầu về squalene trong một số chủng vi tảo biển phân lập ở Việt Nam. Với phương pháp so màu bằng quang phổ, chúng tôi đã xác định được hàm lượng squalene của 5 loài vi tảo biển quang tự dưỡng và 2 loài dị dưỡng, trong đó Schizochytrium mangrovei là chủng vi tảo có hàm lượng squalene đạt cao nhất là 122  mg/g, tiếp theo là Thraustochytrium  striatum  (21,09 mg/g)  và thấp nhất là Nannochloropsis oculata (0,193 mg/g). Bên cạnh đó, các phương pháp sắc ký lớp mỏng (TLC) và sắc ký lỏng cao áp (HPLC) cũng đã được sử dụng để phân tích squalene của S. mangrovei. Hàm lượng squalene của S. mangrovei sau khi được phân tách bằng TLC và định lượng bằng HPLC là 12,63 mg/g lipid không xà phòng hóa, 0,405 mg/g lipid tổng số và 0,203 mg/g sinh khối khô tảo.
</summary>
<dc:date>2013-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Sàng lọc các chủng vi tảo chứa lipid trên một số điểm ở miền Nam Việt Nam [Screening for microalgae strains containing lipid in some places in Southern Vietnam].</title>
<link href="http://tvhdh.vnio.org.vn:8080/xmlui/handle/123456789/21871" rel="alternate"/>
<author>
<name>Nguyễn, Thị Mỹ Lan</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Hoàng Ngọc Phương</name>
</author>
<author>
<name>Huỳnh, Hiệp Hùng</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Tiến Thắng</name>
</author>
<author>
<name>Lê, Thị Thanh Loan</name>
</author>
<author>
<name>Đoàn, Thị Mộng Thắm</name>
</author>
<author>
<name>Phạm, Thành Hổ</name>
</author>
<author>
<name>Lê, Thị Mỹ Phước</name>
</author>
<id>http://tvhdh.vnio.org.vn:8080/xmlui/handle/123456789/21871</id>
<updated>2026-10-01T08:53:41Z</updated>
<published>2013-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Sàng lọc các chủng vi tảo chứa lipid trên một số điểm ở miền Nam Việt Nam [Screening for microalgae strains containing lipid in some places in Southern Vietnam].
Nguyễn, Thị Mỹ Lan; Nguyễn, Hoàng Ngọc Phương; Huỳnh, Hiệp Hùng; Nguyễn, Tiến Thắng; Lê, Thị Thanh Loan; Đoàn, Thị Mộng Thắm; Phạm, Thành Hổ; Lê, Thị Mỹ Phước
Biodiesel từ vi tảo được xem là một nguồn năng lượng thay thế nhiên liệu hóa thạch và việc sử dụng nguồn năng lượng này  có  khả năng làm  giảm lượng CO2  trong  không  khí  so  với việc sử dụng nhiên  liệu hydrocarbon hóa thạch. Ngày  nay,  nghiên  cứu về năng lượng tái tạo chủ yếu tập trung vào diesel  sinh  học từ vi tảo do tảo có tốc độ tăng trưởng nhanh và năng suất cao. Nhằm phát triển hướng nghiên cứu mới này ở Việt Nam, chúng tôi đã phân lập một số loài ở địa phương và sử dụng phương pháp sàng  lọc nhanh để định tính lipid trong vi tảo dựa trên phương pháp nhuộm các tế bào  vi  tảo với thuốc nhuộm huỳnh quang Nile Red. Chúng tôi đã  tuyển chọn được 6 chủng vi tảo nước ngọt: Pediastrum duplex Meyen,  Asterococcus  limneticus G.  M.  Smith,  Coelastrum  cambricum Archer,  Cosmarium  cf. sumatranum Krieger,  Scenedesmus  ellipsoideusChodatvàScenedesmus  acuminatus (Lag.)  Chodat,có chứa lipid từ các mẫu nước từ các ao hồ và 10 chủng vi tảo nước mặn: Amphora sp., Chaetoceros sp.,Nitzschia sp.,    Chlamydomonassp.,    Cyanodictyon cf.    endophyticum Pascher,Dunaliella sp.,Chloridella sp.,  Nannochloropsis sp.,  Fernandinella sp.  và  Tetraselmis sp. từ mẫu nước tại các ruộng muối, các ao nuôi tôm và nước biển.
</summary>
<dc:date>2013-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Phân tích đa dạng sinh học ở đảo Bạch Long Vĩ, Hải Phòng [An analysis of biodiversity of Bach Long Vi island, Hai Phong city].</title>
<link href="http://tvhdh.vnio.org.vn:8080/xmlui/handle/123456789/21870" rel="alternate"/>
<author>
<name>Bùi, Đức Quang</name>
</author>
<author>
<name>Hà, Quý Quỳnh</name>
</author>
<id>http://tvhdh.vnio.org.vn:8080/xmlui/handle/123456789/21870</id>
<updated>2026-10-01T08:54:02Z</updated>
<published>2013-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Phân tích đa dạng sinh học ở đảo Bạch Long Vĩ, Hải Phòng [An analysis of biodiversity of Bach Long Vi island, Hai Phong city].
Bùi, Đức Quang; Hà, Quý Quỳnh
Nghiên cứu đa dạng sinh học ở các hệ sinh thái đảo Bạch Long Vĩ đề cập đến các yếu tố tạo thành hệ sinh thái biển đảo Bạch Long Vĩ gồm vị trí địa lý; địa chất, địa hình; khí hậu, hải văn và sinh vật. Hai kiểu hệ sinh thái chính ở đảo Bạch Long Vĩ được nghiên cứu là hệ sinh thái đảo (HST-I) và hệ sinh thái biển ven đảo (HST-II). Đa dạng thực vật trên đảo gồm 281 loài, thuộc 229 chi của 111 họ. Hệ động vật trên đảo gồm 74 loài chim, 16 loài thú, 15 loài bò sát và 5 loài ếch nhái. Mức độ đa dạng sinh học thủy sinh vật ở đảo Bạch Long Vĩ gồm 1080 loài, cao hơn đảo Cô Tô (780 loài) và thấp hơn đảo Cát Bà (1342 loài). Số loài cá ở Bạch Long Vĩ (451 loài) nhiều hơn 2 lần so với 2 đảo Cát Bà (196) và Cô Tô (191 loài). Nhóm động vật nổi, động vật đáy, rong cỏ biển và San hô thấp hơn so với 2 hệ sinh thái ở đảo Cát Bà và đảo Cô Tô. Thực vật nổi ở Bạch Long Vĩ gồm 227 loài, thấp hơn Cát Bà (400 loài) và cao hơn Cô Tô (151 loài).
</summary>
<dc:date>2013-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
</feed>
